Điều 15. Điều
kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào
1. Có hóa đơn giá trị
gia tăng hợp pháp của hàng hóa, dịch vụ mua vào hoặc chứng từ nộp thuế giá trị
gia tăng khâu nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài
theo hướng dẫn của Bộ Tài chính áp dụng đối với các tổ chức nước ngoài không có
tư cách pháp nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài kinh doanh hoặc có thu nhập
phát sinh tại Việt Nam.
2. Có chứng từ thanh
toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào (bao gồm cả hàng hóa
nhập khẩu) từ hai mươi triệu đồng trở lên, trừ trường hợp tổng giá trị hàng
hóa, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn dưới hai mươi triệu đồng theo giá đã
có thuế GTGT.
Chứng từ
thanh toán không dùng tiền mặt gồm chứng từ thanh toán qua ngân hàng và
chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt khác hướng dẫn tại khoản 3 và khoản 4 Điều
này.
3.
Chứng từ thanh toán qua ngân hàng được hiểu là có chứng từ chứng minh việc
chuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán (tài khoản của
bên mua và tài khoản của bên bán phải là tài khoản đã đăng ký hoặc thông báo
với cơ quan thuế) mở tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán
theo các hình thức thanh toán phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành như
séc, ủy nhiệm chi hoặc lệnh chi, ủy nhiệm thu, nhờ thu, thẻ ngân hàng, thẻ tín
dụng, sim điện thoại (ví điện tử) và các hình thức thanh toán khác theo quy
định (bao gồm cả trường hợp bên mua thanh toán từ tài khoản của bên mua sang
tài khoản bên bán mang tên chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc bên mua thanh toán từ
tài khoản của bên mua mang tên chủ doanh nghiệp tư nhân sang tài khoản bên bán nếu
tài khoản này đã được đăng ký giao dịch với cơ quan thuế).
a) Các chứng
từ bên mua nộp tiền mặt vào tài khoản của bên bán hoặc chứng từ thanh toán theo
các hình thức không phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành không đủ điều
kiện để được khấu trừ, hoàn thuế GTGT đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào từ hai
mươi triệu đồng trở lên.
b) Hàng hóa,
dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn từ hai mươi triệu đồng trở lên theo giá
đã có thuế GTGT nếu không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì không được
khấu trừ. Đối với những hóa đơn này, cơ sở kinh doanh kê khai vào mục hàng hóa,
dịch vụ không đủ điều kiện khấu trừ trong bảng kê hóa đơn, chứng từ hàng hóa,
dịch vụ mua vào.
c) Đối với hàng hóa,
dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị hàng hóa, dịch vụ mua từ hai mươi
triệu đồng trở lên, cơ sở kinh doanh căn cứ vào hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ
bằng văn bản, hóa đơn giá trị gia tăng và chứng từ thanh toán qua ngân hàng của
hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp để kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào,
đồng thời ghi rõ thời hạn thanh toán vào phần ghi chú trên bảng kê hóa đơn,
chứng từ hàng hóa, dịch vụ mua vào. Trường hợp chưa có chứng từ thanh toán qua
ngân hàng do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng hoặc trước ngày 31
tháng 12 hàng năm đối với trường hợp thời điểm thanh toán theo hợp đồng sớm hơn
ngày 31 tháng 12, cơ sở kinh doanh vẫn được kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu
vào.
Đến
thời điểm thanh toán theo hợp đồng hoặc đến ngày 31 tháng 12 hàng năm đối với
trường hợp thời điểm thanh toán theo hợp đồng sớm hơn ngày 31 tháng 12, nếu
không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì không được khấu trừ thuế GTGT
đầu vào, cơ sở kinh doanh phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế GTGT đầu vào đã
khấu trừ của giá trị hàng hóa không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng. Sau
khi cơ sở kinh doanh đã điều chỉnh giảm số thuế GTGT đầu vào đã khấu trừ tương
ứng với giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào không có chứng từ thanh toán qua ngân
hàng, cơ sở kinh doanh mới có được chứng từ chứng minh việc thanh toán qua ngân
hàng thì cơ sở kinh doanh được khai bổ sung.
Trường
hợp đã quá hạn thanh toán chậm trả theo quy định trong hợp đồng hoặc đến ngày
31 tháng 12 hàng năm, cơ sở kinh doanh không thực hiện điều chỉnh giảm theo quy
định nhưng trước khi cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền công bố quyết định
kiểm tra tại trụ sở, cơ sở kinh doanh có đầy đủ chứng từ chứng minh đã thanh
toán qua ngân hàng thì nếu việc không điều chỉnh giảm không dẫn đến thiếu số
thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được hoàn thì cơ sở kinh doanh bị xử phạt vi
phạm về thủ tục thuế, nếu việc không điều chỉnh giảm dẫn đến thiếu số thuế phải
nộp hoặc tăng số thuế được hoàn thì cơ sở kinh doanh bị truy thu, truy hoàn và xử
phạt theo quy định của Luật Quản lý thuế.
Trường hợp cơ quan thuế công bố quyết
định kiểm tra, thanh tra tại trụ sở và có quyết định xử lý không chấp nhận cho
khấu trừ thuế đối với các hóa đơn GTGT không có chứng từ thanh toán qua ngân
hàng, sau khi có quyết định xử lý của cơ quan thuế cơ sở kinh doanh mới có
chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì:
- Đối với các hóa đơn GTGT cơ sở kinh
doanh đã điều chỉnh giảm trước khi cơ quan thuế đến thanh tra, kiểm tra thì cơ
sở kinh doanh được khai bổ sung thuế GTGT.
- Đối với các hóa đơn GTGT cơ sở kinh
doanh đã không điều chỉnh giảm trước khi cơ quan thuế đến thanh tra, kiểm tra
thì cơ sở kinh doanh được khai bổ sung nếu có chứng từ thanh toán qua ngân hàng
trong thời hạn 6 tháng kể từ tháng có Quyết định xử lý của cơ quan thuế.
Ví dụ 64:
Trong năm 2014, Công ty TNHH ANB có
phát sinh các hóa đơn GTGT mua hàng theo hợp đồng trả chậm như sau:
- Hóa đơn GTGT mua hàng tháng 3/2014,
thời hạn thanh toán là ngày 20/9/2014.
- Hóa đơn GTGT mua hàng tháng 4/2014,
thời hạn thanh toán là ngày 20/10/2014.
- Hóa đơn GTGT mua hàng tháng 5/2014,
thời hạn thanh toán là ngày 20/11/2014.
- Hóa đơn GTGT mua hàng tháng 6/2014,
thời hạn thanh toán là ngày 20/12/2014.
Công ty TNHH ANB đã kê khai khấu trừ
thuế GTGT khi nhận được hóa đơn GTGT mua hàng. Đến thời điểm thanh toán theo
các hợp đồng, Công ty TNHH ANB chưa có chứng từ thanh toán qua ngân hàng, Công
ty TNHH ANB được lựa chọn kê khai điều chỉnh giảm theo từng hóa đơn hoặc đến
ngày 31/12/2014, Công ty TNHH ANB vẫn chưa có chứng từ thanh toán qua ngân hàng
thì trong kỳ kê khai thuế tháng 12/2014, Công ty TNHH ANB thực hiện tổng hợp kê
khai điều chỉnh giảm cho tất cả 4 hóa đơn GTGT mua hàng nói trên theo quy định
của pháp luật về quản lý thuế.
Ví dụ 65:
Tại Công ty TNHH Super có tình hình
như sau:
Tháng 2, 3 năm 2014 Công ty TNHH Super
có hóa đơn GTGT mua hàng hóa theo hợp đồng thanh toán trả chậm, thời hạn trả là
ngày 31/10/2014. Căn cứ hóa đơn GTGT do người bán cung cấp, Công ty TNHH Super
đã kê khai khấu trừ thuế GTGT trên Tờ khai thuế GTGT tháng 2, tháng 3 năm 2014.
Đến thời hạn trả (ngày 31/10/2014) do có khó khăn về tài chính nên Công ty TNHH
Super chưa thanh toán theo đúng thời hạn trong hợp đồng. Trong kỳ kê khai tháng
10/2014, Công ty TNHH Super đã tự kê khai điều chỉnh giảm theo quy định đối với
số thuế GTGT đầu vào đã khấu trừ, đồng thời đã khai tăng chi phí tính thuế TNDN
khoản chi phí tương ứng số thuế GTGT đầu vào không được khấu trừ điều chỉnh
giảm.
Tháng 4 năm 2015, cơ quan thuế ban
hành Quyết định kiểm tra về thuế GTGT tại Công ty TNHH Super. Đối với hóa đơn
GTGT mua hàng trong tháng 2, tháng 3 năm 2014 theo hợp đồng trả chậm với thời
hạn thanh toán là ngày 31/10/2014, do Công ty đã tự điều chỉnh giảm số thuế đã
kê khai khấu trừ theo quy định nên Đoàn kiểm tra ghi nhận số liệu đã điều chỉnh
giảm.
Tháng 5 năm 2015 cơ quan thuế ban hành
Quyết định xử lý về thuế GTGT đối với Công ty TNHH Super (trong Quyết định
không có nội dung xử lý về thuế GTGT của các hóa đơn GTGT mua hàng trong tháng
2, tháng 3 năm 2014 theo hợp đồng trả chậm với thời hạn thanh toán là ngày
31/10/2014 do Đoàn kiểm tra đã ghi nhận số liệu kế toán đã điều chỉnh giảm).
Tháng 12 năm 2015 Công ty TNHH Super
có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hợp đồng thanh toán trả chậm của
hóa đơn GTGT mua hàng của tháng 2, 3 năm 2014 (thời hạn thanh toán là ngày 31/10/2014)
thì Công ty TNHH Super được khai điều chỉnh bổ sung thuế GTGT. Đồng thời Công
ty TNHH Super thực hiện điều chỉnh giảm chi phí tính thuế TNDN tương ứng.
Ví dụ 66:
Tại Công ty TNHH YKK có tình hình như
sau:
Tháng 3, 4 năm 2014 Công ty TNHH YKK
có hóa đơn GTGT mua hàng hóa theo hợp đồng thanh toán trả chậm, thời hạn trả là
ngày 30/9/2014. Căn cứ hóa đơn GTGT do người bán cung cấp, Công ty TNHH YKK đã
kê khai khấu trừ thuế GTGT trên Tờ khai thuế tháng 3, tháng 4 năm 2014. Đến
thời hạn trả (ngày 30/9/2014), Công ty TNHH YKK không có khả năng thanh toán,
tuy nhiên, Công ty đã không kê khai điều chỉnh giảm. Đến thời điểm ngày
31/12/2014, Công ty TNHH YKK cũng không kê khai điều chỉnh giảm số thuế GTGT đã
khấu trừ chưa có chứng từ thanh toán qua ngân hàng.
Tháng 4 năm 2015, cơ quan thuế ban
hành Quyết định kiểm tra về thuế GTGT tại Công ty TNHH YKK, thời kỳ kiểm tra là
năm 2014. Tại thời điểm kiểm tra, Công ty TNHH YKK không xuất trình được chứng
từ thanh toán qua ngân hàng đối với hóa đơn GTGT mua hàng hóa theo hợp đồng
thanh toán trả chậm, thời hạn trả là ngày 30/9/2014. Đoàn kiểm tra xử lý không
chấp thuận cho Công ty TNHH YKK được kê khai khấu trừ thuế GTGT đối với các hóa
đơn không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng.
Tháng 5 năm 2015 cơ quan thuế đã ban
hành Quyết định xử lý truy thu thuế GTGT tại Công ty TNHH YKK.
Trường hợp trong tháng 10 năm 2015
Công ty TNHH YKK có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hợp đồng thanh
toán trả chậm của hóa đơn GTGT mua hàng của tháng 3 năm 2014 (thời hạn trả là trong
tháng 9 năm 2014) thì Công ty TNHH YKK được khai điều chỉnh bổ sung thuế GTGT
do thời điểm có chứng từ thanh toán qua ngân hàng trong thời hạn 6 tháng kể từ
khi cơ quan thuế ban hành Quyết định xử lý truy thu thuế.
Trường hợp trong tháng 12 năm 2015,
Công ty TNHH YKK có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hợp đồng thanh
toán trả chậm của hóa đơn GTGT mua hàng của tháng 4 năm 2014 (thời hạn thanh
toán là ngày 30/9/2014) thì Công ty TNHH YKK không được khai điều chỉnh bổ sung
thuế GTGT do thời điểm có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đã quá thời hạn 6
tháng kể từ khi cơ quan thuế ban hành Quyết định xử lý truy thu thuế.
Ví dụ 67:
Tháng 9/2014, Cục thuế tỉnh B qua kiểm
tra việc chấp hành pháp luật thuế đã ban hành Quyết định xử lý về thuế, xử phạt
vi phạm hành chính đối với Công ty cổ phần PNG. Tại Quyết định xử lý có nội
dung thu hồi tiền hoàn thuế GTGT 460 triệu đồng là khoản tiền thuế GTGT của
hàng hóa, dịch vụ mua vào từ 20 triệu đồng trở lên Công ty đã thực hiện kê
khai, khấu trừ nhưng đến thời điểm kiểm tra đã quá thời hạn thanh toán theo hợp
đồng mà chưa có chứng từ thanh toán qua ngân hàng của bộ hồ sơ đã được hoàn
thuế của kỳ hoàn từ tháng 8/2013 đến tháng 8/2014. Công ty cổ phần PNG đã chấp
hành nộp đầy đủ vào NSNN số tiền thuế truy thu.
Trong tháng
10/2014, Công ty cổ phần PNG có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hóa
đơn mua hàng hóa theo hợp đồng đã quá hạn thanh toán tương ứng với số thuế GTGT
460 triệu đồng đã bị cơ quan thuế thu hồi thì trong tháng 10/2014, Công ty cổ
phần PNG được kê khai bổ sung điều chỉnh theo quy định.
4. Các trường
hợp thanh toán không dùng tiền mặt khác để khấu trừ thuế GTGT đầu vào gồm:
a) Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua
vào theo phương thức thanh toán bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào
với giá trị hàng hóa, dịch vụ bán ra, vay mượn hàng mà phương thức thanh toán
này được quy định cụ thể trong hợp đồng thì phải có biên bản đối chiếu số liệu
và xác nhận giữa hai bên về việc thanh toán bù trừ giữa hàng hóa, dịch vụ mua
vào với hàng hóa, dịch vụ bán ra, vay mượn hàng. Trường hợp bù trừ công nợ qua
bên thứ ba phải có biên bản bù trừ công nợ của ba (3) bên làm căn cứ khấu trừ
thuế.
b) Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua
vào theo phương thức bù trừ công nợ như vay, mượn tiền; cấn trừ công nợ qua
người thứ ba mà phương thức thanh toán này được quy định cụ thể trong hợp đồng
thì phải có hợp đồng vay, mượn tiền dưới hình thức văn bản được lập trước đó và
có chứng từ chuyển tiền từ tài khoản của bên cho vay sang tài khoản của bên đi
vay đối với khoản vay bằng tiền bao gồm cả trường hợp bù trừ giữa giá trị hàng
hóa, dịch vụ mua vào với khoản tiền mà người bán hỗ trợ cho người mua, hoặc nhờ
người mua chi hộ.
c) Trường hợp hàng
hóa, dịch vụ mua vào được thanh toán ủy quyền qua bên thứ ba thanh toán qua
ngân hàng (bao gồm cả trường hợp bên bán yêu cầu bên mua thanh toán tiền qua
ngân hàng cho bên thứ ba do bên bán chỉ định) thì việc thanh toán theo ủy quyền
hoặc thanh toán cho bên thứ ba theo chỉ định của bên bán phải được quy định cụ
thể trong hợp đồng dưới hình thức văn bản và bên thứ ba là một pháp nhân hoặc
thể nhân đang hoạt động theo quy định của pháp luật.
Trường hợp sau khi thực hiện các hình
thức thanh toán nêu trên mà phần giá trị còn lại được thanh toán bằng tiền có
giá trị từ 20 triệu đồng trở lên thì chỉ được khấu trừ thuế đối với trường hợp
có chứng từ thanh toán qua ngân hàng. Khi kê khai hóa đơn thuế GTGT đầu vào, cơ
sở kinh doanh ghi rõ phương thức thanh toán được quy định cụ thể trong hợp đồng
vào phần ghi chú trên bảng kê hóa đơn, chứng từ hàng hóa, dịch vụ mua vào.
d) Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua
vào được thanh toán qua ngân hàng vào tài khoản của bên thứ ba mở tại Kho bạc
Nhà nước để thực hiện cưỡng chế bằng biện pháp thu tiền, tài sản do tổ chức, cá
nhân khác đang nắm giữ (theo Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền) thì
cũng được khấu trừ thuế GTGT đầu vào.
Ví dụ 68:
Công ty A mua
hàng của Công ty B và Công ty A đang còn nợ tiền hàng của Công ty B. Tuy nhiên
Công ty B đang còn nợ tiền thuế vào ngân sách nhà nước. Căn cứ Luật Quản lý thuế,
cơ quan thuế thực hiện thu tiền, tài sản của Công ty B do Công ty A đang nắm
giữ để thi hành quyết định hành chính thuế thì khi Công ty A chuyển tiền vào
tài khoản thu ngân sách cũng được coi là thanh toán qua ngân hàng, số thuế GTGT
đầu vào tương ứng với doanh số của hàng hóa mua vào được kê khai, khấu trừ.
Ví dụ 69:
Công ty C thực hiện ký hợp đồng kinh
tế với Công ty D về việc cung cấp hàng hóa và Công ty D đang còn nợ tiền hàng
của Công ty C.
Thực hiện Quyết định của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền về việc yêu cầu thu toàn bộ số tiền mà Công ty D đang còn nợ
Công ty C để chuyển vào tài khoản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mở tại Kho
bạc Nhà nước để giải quyết “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” giữa Công ty
C và đối tác.
Khi Công ty D chuyển trả số tiền vào
tài khoản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (việc chuyển tiền này không được
quy định cụ thể trong hợp đồng mua bán giữa Công ty C và Công ty D) thì trường
hợp này cũng được coi là thanh toán qua ngân hàng, số thuế GTGT đầu vào tương
ứng với doanh số của hàng hóa mua vào được kê khai, khấu trừ.
5. Trường hợp mua hàng hóa, dịch vụ
của một nhà cung cấp có giá trị dưới hai mươi triệu đồng nhưng mua nhiều lần
trong cùng một ngày có tổng giá trị từ hai mươi triệu đồng trở lên thì
chỉ được khấu trừ thuế đối với trường hợp có chứng từ thanh toán qua ngân hàng.
Nhà cung cấp là người nộp thuế có mã số thuế, trực tiếp khai và nộp thuế GTGT.